Chuyên tâm nghiên cứu lịch sử và di sản văn hóa của dân tộc, TS Khổng Đức Thiêm cho rằng, thói hư danh đã ảnh hưởng lớn tới việc sính danh hiệu. So với các giai đoạn trước, danh hiệu di sản đang ngày một nhiều lên, nhưng giá trị của nó lại không "đắt”. TS Thiêm còn cho rằng không phải bất kỳ di sản nào của tiền nhân cũng phải cố công khôi phục lại, phải quản lý bằng các văn bản pháp luật. Bởi giá trị ngàn đời của di sản nằm trong nhận thức của cộng đồng.
| Di tích Đàn Xã Tắc PV: Thưa ông, những di sản được vinh danh tầm thế giới của Việt Nam có thể sẽ còn nhiều hơn. Song bên cạnh sự vui mừng, luôn có một nỗi lo hiện hữu, đó là hình như chúng ta đang quá phụ thuộc, thậm chí là lệ thuộc vào những danh hiệu ấy? TS KHỔNG ĐỨC THIÊM: Nếu đặt câu hỏi những di sản được vinh danh trong thời gian qua đã xứng đáng chưa, đã đạt tầm chưa, tôi nghĩ có những di sản đạt và có những di sản chưa đạt. Thậm chí có những danh hiệu được khoác danh di sản này nọ còn có sự vô lý. Vì thế, tôi ngờ ngợ một điều là lâu nay cả nơi xin lẫn nơi cho có vẻ đang dễ dãi quá chăng trong cách đánh giá, trong cách phân loại và xếp hạng danh hiệu di sản? Việc xếp hạng di sản, thực chất chỉ để ghi thêm tiếng tăm cho địa phương. Vì thế, tôi nghĩ rằng sính danh hiệu là một căn bệnh mà mình cũng phải xem xét lại. Đã là di sản văn hóa thì phải xuất phát từ trí tuệ của cộng đồng, của dân tộc, của tiền nhân để lại. Di sản được cộng đồng coi trọng khi nó thực sự gắn bó, sống cùng đời sống của người dân. Còn cái gì đã tên là "gượng ép”, là "diễn” quá thì người ta sẽ thấy chán ngay. Quan niệm của tôi hơi khác, rằng những giá trị nào tinh túy của tiền nhân để lại mới có thể trở thành di sản văn hóa được. Có những cái được coi là di sản văn hóa, nhưng đến bây giờ ta có thể không cần đến nó nữa, hoặc di sản ấy chỉ tồn tại như là sự quá vãng, kỷ niệm thôi. Chứ không phải cái gì cũng là phải kế thừa, phải là phát huy, cũng phải làm lan tỏa nó lên. Nhiều công trình về kiến trúc tuy có độ dài thời gian nhưng có khi chỉ là những kỷ niệm. Mà đã là kỷ niệm thì nó là niềm tự hào. Người đời sau có nhiệm vụ gìn giữ, chứ không nhất thiết là phải phát huy. Dù nghiên cứu lịch sử, nhưng tôi nghĩ, chúng ta cũng không nên khắt khe với những nơi có thành, quách… là không được xây dựng mới. Giống như chuyện bảo tồn Đàn Xã Tắc ở khu vực Xã Đàn (Hà Nội), tôi không đồng tình với quan điểm của giới sử học ở chỗ đối với Xã Đàn bây giờ chỉ còn lại những dấu vết, hình bóng xưa. Không có lý gì ta không được làm gì để đi qua nó cả. Tôi nghĩ rằng chỉ nên gắn một tấm bia ghi rõ ý nghĩa lịch sử, niên đại của Đàn Xã Tắc, là đủ. Tương tự, với đường Hoàng Hoa Thám thì cũng nên gắn biển chứ không nên dừng các công trình xây dựng rồi tiến hành khai quật… Đặc biệt ở Thủ đô ngàn năm văn hiến thì bất kỳ chỗ nào hạ nhát cuốc, nhát xẻng xuống thì đều có thể gặp được di tích. Chúng ta phải nên ứng xử với di sản sao cho thật mềm mỏng. Và di sản cũng phải đồng hành với con người để tiến vào một cuộc sống mới, thời đại mới. Thưa ông, dù chúng ta đã vạch ra các chiến lược, cam kết bảo tồn và phát triển với UNESCO, nhưng hiện nhiều di sản đang rất lúng túng sau khi được vinh danh. Lý do được đưa ra là do các nhà quản lý đang "tách”di sản khỏi cộng đồng? - Tôi vẫn khẳng định hệ lụy là do thói hư danh mà ra, chứ không hẳn do các nhà quản lý không đến tầm. Đơn cử như Hà Nội hiện nay có hơn 5.000 di tích nhưng có hơn 4.000 di tích các nhà quản lý không phải đụng đến. Bởi vì những di tích ấy đang sống trong dân, người dân đang bảo vệ di sản là đình, là chùa, là văn chỉ, văn miếu, đền thờ, miếu mạo. Và đương nhiên, chính cộng đồng là người góp phần lớn vào việc tôn tạo những giá trị văn hóa còn lưu giữ. Tất nhiên, có khoảng vài chục di sản văn hóa lịch sử tại Thủ đô cần phải có sự quan tâm đặc biệt. Nếu không đầu tư ngay sẽ mất đi, khiến chúng ta trở thành người có tội với tiền nhân. Hiện không chỉ giới nghiên cứu mà ngay cả người dân cũng cho rằng việc xếp hạng di tích, nâng đời di sản với tốc độ nhanh và nhiều như hiện nay, lại càng khiến cho việc bảo tồn khó khả thi? Quan điểm của ông về vấn đề này. - Có một thực tế, sau khi di sản được vinh danh, người ta rất mong mỏi sẽ nhận được tiền đầu tư tôn tạo từ ngân sách nhà nước.Và khi có đồng tiền đầu tư rồi, người ta cố gắng thi công sao cho đạt các mục tiêu với giá thành rẻ nhất, tiết kiệm nhất, ít nhất so với tổng số tiền nhà nước đầu tư. và cho rằng như thế mới là thành công, chứ không phải là làm sao di sản ấy được phục hồi tốt nhất, hay phục hồi giống nguyên trạng nhất… Phải nói thẳng ra là lâu nay người ta đang bớt xén tiền đầu tư cho trùng tu di tích, di sản. Vì sao? vì khi triển khai tu bổ, tôn tạo công trình thì nhà quản lý thực hiện, còn cộng đồng lại đứng ngoài quá trình đó. Họ không có được cái quyền "Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra”. Tôi tâm niệm cái gì của đình, của chùa, của nhà nước cho nhưng đã cấp cho đình cho chùa thì một vệt gỗ cũng không được đụng đến. Ở đây là vấn đề ý thức! Tôi nghĩ những xếp hạng di tích văn hóa - lịch sử ở những năm 1960 của của Bộ Văn hóa (cũ) là chuẩn. Còn bây giờ vinh danh, xếp hạng tràn lan quá! Trân trọng cảm ơn ông! Hương Lê - Hoàng Minh (thực hiện) |
0 nhận xét:
Đăng nhận xét